Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là một trong những hình tượng gần gũi nhất với đa số các tín đồ Phật Giáo dù ở bất cứ nơi đâu, thuộc tầng lớp nào. Ngài chính là hiện thân của lòng từ bi, đại hạnh, là nền tảng của mọi công hạnh tu tập. Ngài còn là chỗ nương cậy, cầu cứu khổ cứu nạn của chúng sinh. Chính vì vậy, các bậc hành giả khi tu tập đều lấy Ngài như tấm gương để noi theo, quy hướng về Ngài. Cho nên, không lấy làm lạ khi từ kẻ quê mùa cho đến bậc trí thức, đều cung kính và tưởng niệm đến Đức Quán Thế Âm.
Tuy nhiên, đối với hầu hết những người dân quê đều chỉ biết đến Ngài qua những câu chuyện kể lại hoặc sự hiển linh của Ngài trong đời sống mà họ được nghe hoặc chứng kiến. Họ thường chưa biết đến Ngài qua việc học tập, nghiên cứu kinh luận. Vậy Quán Âm Bồ Tát là ai? Và sự tích của đức Quán Thế Âm Bồ Tát như thế nào? Cùng hiểu rõ qua bài viết dưới đây.
Quan Âm Bồ Tát là ai?
Quan Thế Âm (tiếng Phạn là Avalokitesvara), dịch sang tiếng Hán là Quan Thế Âm hay Quán Tự Tại, có nghĩa là quan sát tiếng kêu than của chúng sinh nơi trần gian để độ hóa cho họ thoát khổ, thoát nạn. Tên đầy đủ của Ngài là Quan Thế Âm, nhưng người đời Đường ở Trung Quốc kiêng húy chữ “Thế”, nên thường gọi là Quan Âm. Nên danh hiệu “Quan Âm Bồ Tát” được dùng phổ biến hiện nay.
Quan Âm Bồ Tát là hiện thân của Từ Bi, Ngài phát đại nguyện thực hiện từ bi cùng tận cho đến khi chúng sinh không còn đau khổ. Vì chỉ có Từ Bi mới giải trừ được mọi khổ đau, cũng giống như chỉ có trí tuệ mới tiêu diệt được ngu si. Chính vì vậy, Quan Âm Bồ Tát thiết lập tâm đại từ, đại bì thực hiện đại thệ nguyện độ sanh của Ngài.

Quan Thế Âm Bồ Tát không phải một vị Bồ Tát thông thường, chưa thành Phật. Trong quá khứ, Ngài đã thành Phật, hiệu “Chánh Pháp Minh Như Lai”. Ngài thị hiện làm Bồ Tát vì muốn cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh. Đức Bồ Tát thấy Phật và chúng sinh chung một bản thể, đồng chung một giác tính duy nhất, nhưng Phật đã giác ngộ còn chúng sinh thì si mê.
Ngày vía Quan Âm hay còn gọi là ngày cúng Mẹ Quan Âm được lưu ý hơn cả đối với các ngày rằm. Ngày Vía Quan Âm bao gồm 3 ngày là 12/2 âm lịch (Ngày sinh của Quan Âm). 19/6 âm lịch (ngày quan âm xuất gia) và ngày 19/9 âm lịch (Ngày quan âm thành Phật).
Quan Thế Âm Bồ Tát là nam hay nữ?
Trong kinh Pháp – Hoa phẩm Phổ – Môn có viết: “ Cần thích hợp một Phật thân để tế độ, Quán Thế Âm Bồ Tát liền hiện Phật thân để nói Pháp và tế độ. Theo đó, trong kinh Đại Phật và kinh Bi Hoa, đức Bổn Sư Thích Ca đã dạy rằng “ Đức Quán Thế Âm Bồ Tát đời quá khứ đã thành Phật, hiệu của Ngài là Chánh Pháp Như Lao vào thuở lâu xa vô lượng kiếp trước. Vị thương xót chúng sinh, bi nguyện độ sanh mà Ngài thị hiện làm thân Bồ Tát. Cũng trong kinh Bi Hoa, Đức Phật gọi Bồ Tát Quán Thế Âm là “Thiện – nam – tử” tốt. Vậy, Ngài đã thành Phật, nhưng mười phương chư Phật không hề có nữ thân. Chính vì vậy, Quán Thế Âm Bồ Tát không thể là nữ nhân được.
Ta đều thường thấy, tượng và ảnh của Quán Thế Âm Bồ Tát có tướng nữ mạo ở một số quốc gia Châu Á, trong đó có Việt Nam. Nên nhiều người mặc định vị Bồ Tát này là nữ, coi Ngài như mẹ hiền che chở chúng sinh, thấu suốt những nỗi oán khổ và hóa độ điều ác, kết thêm duyên lành. Phần khác, trong Phật Giáo, Quan Âm Bồ Tát bảo hộ cho phụ nữ và trẻ nhỏ, lại thường được coi là vị Bồ Tát hóa độ nhân duyên cho nữ giới, hiếm muộn con cái.
“Quán Âm chính là một Đại Bồ Tát trong Phật Giáo Đại Thừa. Vì lòng từ bi cứu khổ cứu nạn cho chúng sinh cũng là sự tuyên truyền Phật Pháp, mà Ngài tùy tiện hiện thân, khi làm Phật, khi làm Bồ Tát, khi làm tiên, khi làm quỷ, thần, khi làm Duyên – giác, khi làm Thinh – Văn, khi làm quốc vương hoặc đại thần, và Ngài cũng mang thân nữ nhi mà cứu độ nhân loại.
Chính vì vậy, Quan Thế Âm Bồ Tát có thể thị hiện thành nữ nhi nên mới có tạo tác là Phật Bà Quan Âm. Thường được tạc, đúc thành tượng thờ phổ biến trong Phật Giáo Đại Thừa ở Viễn Đông, trong đó có Việt Nam. Tạo tác này xuất hiện trước tiên tại Trung Quốc vào thời Nam Bắc Triều (420 – 589) rồi đến đời Đường (618 -907) mới thịnh hành.
![]()
Phật Quan Âm Bồ Tát? hay còn gọi là phật bà quan âm là ai? Gọi như thế nào mới đúng
Quan Thế Âm Bồ Tát trong tiếng Phạn là Avalokitesvara. Trong tiếng Hán, Ngài thường được gọi là Quán Tự Tại, Quán thế Tự Tại, Quán Thế Âm Tự Tại, Quán Thế Tự, Khuy Âm, Hiện Âm Thanh, Quán Âm.. Ngoài ra còn được gọi là Cứu Thế Bồ Tát, Cứu Thế Tinh Thánh, Thí Vô Uý Giả, Phổ Môn, Đai Bài Thánh Giả.
Các phật tử Việt Nam thường gọi Ngài là Phật Quan Âm Bồ Tát hay Phật Bà Quan Âm hoặc Mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát. Gọi theo cách nào cũng đúng vì trong Phật Giáo Thượng Thừa tại Viễn Đông, Quan Âm Bồ Tát được tạo tác có tướng mạo là nữ, nhân hậu, bao dung. Đây chính là một thị hiện của Ngài khí tùy tiện hiện thân xuống trần gian để cứu khổ cứu nạn. Nên gọi Ngài là Phật Bà Quan Âm hay Phật Quan Âm Bồ Tát.
Quan Thế Âm Bồ Tát có thật không?
Theo kinh điển Nguyên Thủy, không thừa nhận sự tồn tại của những vị Quan Thế Âm Bồ Tát mà chỉ có sự tồn tại theo hệ thống giáo lý kinh điển Đại Thừa. Vậy Quan Thế Âm Bồ Tát có thật hay không? Câu trả lời là có.
Quan Thế Âm Bồ Tát là biểu tượng cho sự Từ Bi, cứu khổ cứu nạn. Khi một người tin tưởng tuyệt đối vào sự gia trì của chư Phật thì 1 vị Phật có thể hóa thân thành hàng hà sa số vị Phật khác để giải cứu chúng sinh. Nói cách khác, khi một người lúc gặp hiểm nguy, tin tưởng và gọi tên “Nam Mô Quan Thế ÂM Bồ Tát Cứu Khổ, Cứu Nạn”, thì trong hư không tạng thế giới có hằng hà sa các chư vị A La Hán nghe được và xuất hiện Quan Thế Âm Bồ Tát để giúp họ. Vì vậy, không nên quá chú trọng đến việc Quan Thế Âm Bồ Tát có thật hay không, mọi vị Phật, chư Phật Mười Phương, chư vị La Hán, A La Hán đều có thể chính là Quan Thế Âm.
Những truyền thuyết về mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát
Những truyền thuyết về mẹ Quan Thế Âm lần đầu tiên xuất hiện ở Trung Nguyên, khoảng hơn 2000 năm trước và nổi tiếng dưới thời nhà Tống (960-1279), từ đó Quan Thế Âm Bồ Tát được ca ngợi như một vị thần của lòng từ bi cho đến ngày nay.
Truyền thuyết đầu tiên về mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát là về công chúa Miêu Sơn, cô con gái út của một chư hầu Trung Quốc. Nguyện vọng của cô là muốn xuất gia tu hành nên nhà vua đã đồng ý từ bỏ tước hiệu của công chúa và để cô ra đi. Sau khi về già, nhà vua mắc trọng bệnh do nghiệp báo từ những việc làm tội lỗi trước đây của nhà vua, cần một loại thuốc được chưng cất từ cánh tay và đôi mắt của người với điều kiện là phải hoàn toàn tự nguyện. Công chúa Miêu Sơn khi đó đã là một vị Bồ Tát sau nhiều năm tu hành, tự nguyện dâng hiến cánh tay và mắt để cứu vua cha. Sau đó, đôi mắt và cánh tay của cô đã khôi phục, nhưng lúc này thân thể cô không còn là thân thể phàm nhân mà đã biến thành một vị Bồ Tát.
Một truyền thuyết khác về mẹ Quan Thế Âm Bồ Tát là bà thường hóa thành những người giản dị để có thể cứu giúp và cảm hóa con người. Ở một số nơi, tượng Quan Âm thường có mang theo một cái giỏ được đan bằng liễu và một cành liễu. Bà được coi như là một vị thần bảo hộ cho thủy thử và các ngư dân ven biển.

Mẹ Bồ Tát Quan Âm còn là một nhân vật nổi tiếng trong tác phẩm Tây Du Ký. Ngài đã hiển linh và giao cho Pháp sư Tam Tạng sứ mệnh sang Ấn Độ thỉnh kinh về Trung Hoa để hồng dương Phật Pháp. Bà cũng an bài cho Tôn Ngộ Không, Trư Bát Giới và Sa Ngộ tĩnh trở thành đồ đệ của Đường Tăng. Bà cũng là người nhiều lần hóa giải mâu thuẫn phát sinh giữa các thầy trò, giúp họ thông qua khổ nạn mà trừ bỏ nghiệp lực và tà tâm, tu thành chín quả.
Trong một số truyền thuyết khác, Quan Thế Âm Bồ Tát xuất hiện với hình tượng nghìn mắt nghìn tay, cứu độ hơn nữa cho chúng sinh trong cảnh lầm than.
Hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát
Trong Hoa Nghiêm Kinh, Quan Thế Âm Bồ Tát ở tại Nam Hải Phổ Đà Sơn, nơi có vô lượng chư vị Bồ Tát vây quanh. Trong Đại A Di Đà kinh, thì cho rằng, Bồ Tát Quan Âm là thị giả của Đức Phật A Di Đà, ở tại thế giới Tây phương cực lạc, tùy duyên giáo hóa chúng sinh. Quán vô lượng thọ kinh còn nhấn mạnh rằng, Quan Âm Bồ Tát bên Tây Phương Cực Lạc có sắc thân cực kỳ trang nghiêm.
Trong kinh Mật Giáo cũng chỉ ra rằng, Phật Quan Thế Âm Bồ Tát là thị giả của Đức Phật A Di Đà. Nhưng Ngài là Vô Lượng Thọ Phật, do bổn nguyện mà thị hiện thành Bồ Tát đại từ đại bi. Kinh ghi “Bên phải họa tượng Bồ Tát Quan Âm, ngự trên tòa sen, đắp y màu trắng, quỳ gối chắp tay, mặt hướng nhìn Phật, nghe Phật thuyết Pháp. Ngài có 6 cánh tay. Bên trái có 3 cánh tay, một tay cầm tỉnh bình, một tay cầm cuốn kinh, một tay cầm hoa. Bên phải có ba cánh tay, một tay bắt ấn vô úy thúy, một tay cầm dây tơ, một tay cầm quả châu.

Ngoài ra, ở nhiều quyển kinh khác, Quan Âm Bồ Tát được miêu trả có tám tay, mười tay, thậm chí có 40 tay, 108 tay, cho đến ngàn tay. Tựu chung lại, hình tượng của Quán Thế Âm Bồ Tát chỉ có hai tay. Tất cả những hình tượng còn lại là lực dụng thị hiện sự thần biến tự tại của Ngài mà thôi. Các hóa thân của Bồ Tát Quan Thế Âm gồm có: Thập nhất diện Quán Âm, Thiên thủ thiên nhãn Quán Âm, Chuẩn Đề Quán Âm, Như ý luân Quan Âm, Bất không quyến tác Quán Âm, Hương vương Quán Âm,..
Tại sao nên thờ mẹ Quan Thế Âm trong nhà?
Đức Quán Thế Âm Bồ Tát là hiện thân của sự nhân từ, lòng từ bi và sự cứu rỗi nhân loại khỏi những đau khổ, bệnh tật. Ngài luôn phù hộ cho nhân loại có cuộc sống bình an, hạnh phúc. Chính vì vậy, trong các gia đình ở Việt Nam, thờ Mẹ Quan Thế Âm trong nhà là cực kỳ phổ biến.
Mọi người thờ Phật Quan Âm Bồ Tát là mong muốn có được sự thiện trong âm, từ bi như Ngài, an nhiên, tự tại. Thờ Quan Âm Bồ Tát còn mang ý nghĩa là cầu mong may mắn, sức khỏe, gia đình luôn ấm no, hạnh phúc. Việc thờ cúng này đã trở thành nét đẹp của truyền thống văn hóa dân gian Việt Nam, thể hiện những đức tính tốt đẹp của con người. Đó là tính hướng thiện, hướng đến những điều tốt đẹp trong cuộc sống và lòng tin vào thần linh. Cậy nhờ các Ngài thành tâm, các Ngài sẽ phù hộ cho gia đình.
Xem thêm một số Mẫu TƯỢNG PHẬT QUAN ÂM TRẤN TRẠCH TẠI ĐÂY
Nên đặt tượng mẹ Quan Thế Âm ở đâu?
Vị trí đặt tượng Mẹ Quan Thế Âm tốt nhất là hướng ra cửa chính, hướng ra cửa sổ lớn hoặc hướng ra ban công của gia đình. Phải đảm bảo rằng, hướng nhìn của Phật Bà Quan Âm là không bị che chắn, không bị “chướng mắt” trước cuộc sống sinh hoạt của gia đình. Việc đặt bàn thờ Quan Thế Âm Bồ Tát cũng nên phù hợp với phong thủy để mọi thứ được hài hòa, thuận tiện cho việc thờ cúng thường xuyên.
Quán Thế Âm Bồ Tát là hiện thân của Đức Từ Bi, muốn nói lên tình yêu thương chúng sinh, cứu khổ cứu nạn cho trần gian, nhân loại được thoát đau khổ ở cõi ta bà. Vậy nên, Ngài được người người sùng kính, tôn thờ.

